Có
một số cái nhìn từ bên ngoài cho rằng Trung Quốc đang sử dụng chiến
lược “ngoại giao mơ hồ” trong vấn đề liên quan đến vùng biển Đông Nam Á,
nhiều chuyên gia, học giả Trung Quốc cũng thấy điều này.
Chiến
lược hải dương bá đạo của Trung Quốc như đã trình bày trong bài trước
(TTCT số 29, ra ngày 3-8-2014) tuy thật gây bất bình cho các quốc gia
xung quanh và cũng đáng ngại trong vấn đề tự do hàng hải và an toàn hàng
hải đối với nhiều quốc gia khác song chiến lược ấy vẫn bị chi
phối/khống chế bởi sách lược hợp thức hóa bản đồ “đường chữ U” trên bình
diện luật pháp quốc tế.
Danh không chính thì ngôn ắt bất thuận.
Bản
đồ Trung Quốc có “đường chữ U” chiếm gần trọn biển Đông biểu thị ý chí
bá quyền của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh là vấn đề không mới và được
nghiên cứu, bàn thảo, chỉ trích không ít từ hơn 60 năm qua. Tuy nhiên,
vấn đề “đường chữ U” thật sự nóng lên sau khi Chính phủ Trung Quốc chính
thức trình lên Liên Hiệp Quốc bản đồ này vào tháng 5-2009, với lý giải
mông lung rằng nó biểu thị lãnh hải Trung Quốc.
Không
lường trước được sự phản ứng dữ dội của các quốc gia xung quanh và cộng
đồng quốc tế vì hành động tự tin lố bịch và quá đáng của mình, nên có
nhiều lúc ngoại giao Trung Quốc bộc lộ rõ sự lúng túng. Học giới Trung
Quốc có sự chuẩn bị gì từ vài mươi năm trước và toan tính gì trước tình
thế hiện nay?
Có
một số cái nhìn từ bên ngoài cho rằng Trung Quốc đang sử dụng chiến
lược “ngoại giao mơ hồ” trong vấn đề liên quan đến vùng biển Đông Nam Á,
nhiều chuyên gia, học giả Trung Quốc cũng thấy điều này, có nhiều phân
tích sâu sắc còn cho thấy đó chỉ là chiến thuật “ngoại giao mơ hồ” trong
tình thế bị động.
Theo
một nghiên cứu mới công bố hồi tháng 4-2014 của Trương Khiết (Zhang
Jie), chuyên viên Viện Nghiên cứu chiến lược châu Á - Thái Bình Dương và
toàn cầu (Viện Khoa học xã hội Trung Quốc), vấn đề áp dụng quá lâu dài
chính sách mơ hồ trong vấn đề “đường chữ U” ở Nam Hải khiến Chính phủ
Trung Quốc gặp bất lợi cả trong đối ngoại và đối nội.
Về
đối ngoại, “đường chữ U” làm các quốc gia xung quanh nghi ngờ, giận dữ,
góp phần chứng minh cho thuyết “Trung Quốc uy hiếp luận” (Luận về sự uy
hiếp của Trung Quốc), khiến các quốc gia không liên quan trực tiếp như
Mỹ phải dùng an toàn hàng hải và quyền tự do hàng hải để can thiệp.
Về
đối nội, do “đường chữ U” không có chỗ đứng rõ ràng trong các định chế
liên quan đến quy tắc hành chính nên dẫn đến tình trạng không rõ ràng về
chức năng, nhiệm vụ trong hoạt động chấp pháp, xử lý, khai thác, quản
lý giữa các cơ quan nhà nước.
Quan
trọng hơn, tính chất bất minh của “đường chữ U” còn khiến dân chúng kỳ
vọng vào một vấn đề không sát thực tế và cũng gây áp lực không nhỏ đối
với chính phủ trong việc chọn lựa/soạn thảo chính sách.
Nhưng
những ý kiến của Trương Khiết hoặc các phản ảnh tương tự như trên không
nhằm khuyến cáo Chính phủ Trung Quốc gỡ bỏ “đường chữ U” trên bản đồ
hay trong tư tưởng, mà chúng vẫn nằm trong chuỗi phân tích nhằm hướng
vấn đề đến các biện pháp dứt khoát, mạnh mẽ, nhanh chóng hơn để hợp thức
hóa “đường chữ U” này.
Các
học giả thiên về nghiên cứu chiến lược đặt ra hai mục tiêu đối với vấn
đề hợp thức hóa “đường chữ U”. Một là, vận dụng trí tuệ để tìm giải pháp
lập luận pháp lý cho yêu sách “đường chữ U” phù hợp với Công ước luật
biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc. Hai là, trước tiên phải thống nhất
quan điểm về cách lý giải tính chất “đường chữ U” trong nội bộ học giới
Trung Quốc.
Một đường bốn nẻo
Học
giới Việt Nam thường dùng từ “đường lưỡi bò” để chỉ “đường chữ U”. Tuy
nhiên, khi vào từ khóa, nên sử dụng “U /U hình tuyến” hoặc “/cửu đoạn
tuyến” hoặc “/ đoạn tục tuyến” sẽ gặp nhiều thông tin. Các tác giả Trung
Quốc được dẫn trong bài này dùng ba cách gọi, ở đây dùng thống nhất là
“đường chữ U”.
Đến
nay, có nhiều cách giải thích tính chất “đường chữ U”, theo những
nghiên cứu chuyên sâu vấn đề này như của Lưu Nam Lai (Liu Nanlai), Lý
Kim Minh (Li Jinming), Quản Kiến Cường (Guan Jianqiang), Trương Khiết...
thấy xếp vào bốn xu hướng chính, gọi là bốn thuyết, như sau:
1/ Thuyết “Đường biên giới quốc gia” (Quốc giới tuyến)
Thuyết
này xác định rằng “đường chữ U” là “đường biên giới quốc gia”, còn gọi
là “đường biên giới trên biển” (hải thượng cương vực tuyến), đại diện
cho nhóm học giả có chủ trương này là Trần Đức Cung (Chen Degong) - giáo
sư khoa luật ĐH Nhân dân Trung Quốc, nguyên chuyên viên Sở nghiên cứu
chiến lược phát triển hải dương thuộc Cục Hải dương quốc gia.
Họ
Trần cho rằng: “Có thể coi “đường chín đoạn ngắt quãng liên tục” làm
thành “đường biên giới quốc gia”, nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh
vật trên mặt biển, ở đáy biển và lòng đất dưới đáy biển trong phạm vi
này Trung Quốc được thụ hưởng như là quyền lợi mang tính lịch sử”.
Cũng
có thể kể thêm quan điểm của Triệu Lý Hải (Zhao Lihai) - giáo sư Học
viện Luật pháp (ĐH Bắc Kinh) - rằng: “Trong mấy chục năm qua, đường ngắt
quãng liên tục ở Nam Hải được Trung Quốc một mạch kiên trì xem đó là
đường biên giới trên biển”.
Học
giả Đài Loan Phó Côn Thành (Kuen-chen Fu) trong Nghiên cứu về địa vị
luật pháp biển Nam Hải Trung Quốc cũng có khuynh hướng ủng hộ thuyết này
(sau sẽ gọi tắt là thuyết U.1).
Nhóm
chủ trương thuyết U.1 đưa ra lập luận dựa vào các bản đồ soạn vẽ thời
Trung Hoa Dân Quốc, gồm: “Bản đồ các đảo Nam Hải Trung Quốc/Trung Quốc
Nam Hải đảo dữ đồ” (1935), bản đồ “Bản đồ toàn Trung Quốc sau khi phát
triển cương giới biển về phía nam/Hải cương nam triển hậu chi Trung Quốc
toàn đồ” in trong tập Trung Hoa kiến thiết tân đồ (1936), và “Bản đồ vị
trí các đảo Nam Hải/Nam Hải chư đảo vị trí đồ” (1947).
Điểm
mấu chốt trong lập luận của thuyết U.1 là: do các bản đồ hoạch định
phạm vi cương vực lãnh thổ Trung Quốc với đường biên giới trên biển và
với điểm cực nam cụ thể là bãi ngầm Tăng Mẫu (~ 4 độ vĩ bắc) nên “đường
chữ U” thể hiện đủ tính chất “đường biên giới quốc gia”, nhóm này đầu tư
nghiên cứu sâu về các văn bản hành chính liên quan đến các bản đồ nằm
trong khối hồ sơ lưu trữ thời Dân Quốc để chứng minh tính hợp pháp của
đường biên giới quốc gia trên biển được thể hiện trên các bản đồ nêu
trên.
2/ Thuyết “Vùng nước mang tính lịch sử” (Lịch sử tính thủy vực)
Thuyết
này xác định rằng “đường chữ U” là “đường thể hiện vùng nước mang tính
lịch sử” của Trung Hoa Dân Quốc, học giới Việt Nam gọi tắt là “vùng nước
lịch sử”. Nội dung thuyết này cho rằng các đảo, đá, đá ngầm, bãi ngầm
và vùng biển trong phạm vi đường này đều do Trung Hoa Dân Quốc thụ hưởng
như là quyền lợi mang tính lịch sử, vùng biển trong phạm vi “đường chữ
U” là vùng nước mang tính lịch sử của Trung Hoa Dân Quốc.
Thuyết
này do chính quyền Đài Loan đề xuất. Năm 1989, khái niệm “vùng nước
lịch sử” được Bộ Nội chính Đài Loan đề cập tại điều 3 của “Hồ sơ dự thảo
Luật lãnh hải và khu vực tiếp giáp Trung Hoa Dân Quốc”.
Đến
năm 1993, Viện Lập pháp chính quyền Đài Loan chính thức thông qua
“Cương lĩnh chính sách Nam Hải”, đoạn thứ hai trong lời tựa cương lĩnh
viết: “Vùng nước lịch sử giới hạn trong vùng biển Nam Hải là vùng biển
do Trung Hoa Dân Quốc quản lý, Trung Hoa Dân Quốc sở hữu lợi ích và có
quyền sở hữu trong vùng biển ấy”.
Học
giả Đài Loan ủng hộ chủ trương này và nghiên cứu về khía cạnh pháp lý
vấn đề này sớm là Tống Yến Huy (Yann-huei Song), chuyên gia phòng nghiên
cứu Âu Mỹ - Viện nghiên cứu trung ương, nguyên phó giáo sư khoa nghiên
cứu luật biển ĐH Hải Dương; tiến sĩ luật Berkeley (Mỹ) và một học giả Mỹ
gốc Đài là Chiu Hungdah (Khâu Hoằng Đạt), tiến sĩ luật Harvard.
Các
chuyên gia luật quốc tế, luật biển khác như Phó Côn Thành (Kuen-chen
Fu), Du Kiếm Hồng (Peter Kien-hong Yu), Du Khoan Tứ (Yu Steven
Kuan-Tsyh), Triệu Quốc Tài (Zhao Guocai), Tôn Kiến Minh (Kuan-ming
Sun)... cũng có nhiều công trình nghiên cứu sâu về khía cạnh pháp lý.
Tuy
nhiên đến ngày 12-5-2009, trong tuyên bố của Bộ Ngoại giao chính quyền
Đài Loan về vấn đề này, khái niệm “vùng nước lịch sử” đã không được dùng
mà thay thế bằng khái niệm “chu tao thủy vực/vùng nước vòng quanh”.
Gần
đây, nghiên cứu sinh luật quốc tế Đại học Oxford Tống Thừa Ân (Raymond
Chen-En Sung) có một nghiên cứu phân tích sâu sắc vấn đề này, dẫn giải
thêm khái niệm hỗn hợp “lịch sử tính thủy vực quyền lợi” (quyền lợi
trong vùng nước mang tính lịch sử).
Một
số học giả Trung Quốc lục địa lúc đầu cũng tán đồng thuyết này, sau lại
nghiên cứu, phân tích hoặc phối hợp thuyết U.3, diễn giải như một cặp
lý luận hỗ tương. (Thuyết U.2)
3/ Thuyết “Quyền lợi mang tính lịch sử” (Lịch sử tính quyền lợi)
Thuyết
này xác định rằng “đường chữ U” là “đường thể hiện quyền lợi mang tính
lịch sử” của Trung Quốc, học giới Việt Nam gọi tắt là “quyền lợi lịch
sử”. Do Phan Thạch Anh (Pan Shiying) - chuyên gia nghiên cứu chiến lược
hải dương Viện Khoa học quân sự Trung Quốc - chủ trương.
Về
nguồn gốc khái niệm này, nguyên trong một bài nghiên cứu đăng vào tháng
10-1994, ông Phan sử dụng khái niệm “lịch sử tính quyền lực” (quyền lực
mang tính lịch sử), nhưng trong bài nghiên cứu đăng tháng 1-1995 và
quyển sách xuất bản năm 1996, ông ta sử dụng khái niệm “quyền sở hữu
mang tính lịch sử”, cho rằng: “Trung Quốc lấy nét đứt chín đoạn làm
đường biên giới quốc gia biểu thị tại vùng biển Nam Hải, làm thành
“quyền sở hữu mang tính lịch sử” trong phạm vi tiêu chí ấy”.
Và
lập luận rằng, đường chín đoạn ở Nam Hải Trung Quốc đã tồn tại hơn nửa
thế kỷ, không có quốc gia nào đề xuất ý kiến khác, mà Trung Quốc từng
tuyên bố về vùng nước mang tính lịch sử trước lúc Luật biển quốc tế hiện
đại quy định chế độ thềm lục địa, do vậy không thể lấy công ước luật
biển hiện đại để thủ tiêu hoặc phủ định luật pháp trong lịch sử và tập
quán quốc tế.
Vài
học giả khác gần đây như Trịnh Chí Hoa (Zheng Zhihua), Vương Quân Mẫn
(Wang Junmin) đã phát triển các yếu tố phạm vi “quyền lợi lịch sử” khác
như quyền lợi về hàng hải, gọi chung là quyền lợi kinh tế truyền thống.
Và quyền lợi hiện đại như dầu khí hiện nay chỉ là sự tiếp diễn các loại
quyền lợi trước đây.
4/ Thuyết “Đường quy thuộc các đảo” (Đảo dữ quy thuộc tuyến)
Thuyết
này xác định rằng “đường chữ U” là đường “vây quanh các đảo và vùng
nước lân cận thuộc bộ phận lãnh thổ Trung Quốc”, còn gọi là “đảo dữ phạm
vi tuyến” (đường vây quanh các đảo). Tiêu biểu cho nhóm chủ trương
thuyết này là Cao Chi Quốc (Gao Zhiguo) và Lưu Nam Lai (Liu Nanlai).
Cao
Chi Quốc - giám đốc Sở nghiên cứu chiến lược hải dương (Cục Hải dương
quốc gia) - nêu vấn đề này và lập cơ sở lý luận cho nó vào năm 1994.
Lưu
Nam Lai - giáo sư khoa luật ĐH Nhân dân Đông Bắc, năm 2009 được Chính
phủ Trung Quốc cử làm trọng tài viên tại Tòa án quốc tế - trong một tham
luận trình bày tại hội thảo “Vấn đề Nam Hải” ở Hải Nam năm 2002 đã phân
tích bốn thuyết và xác định tính chất của “đường vây quanh các đảo” là
phù hợp nhất để giải thích “đường chữ U” và khẳng định rằng việc giải
thích “đường chữ U” theo phương án này hoàn toàn phù hợp với Công ước
lãnh hải và khu vực tiếp giáp năm 1958 của Trung Quốc và Công ước luật
biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc.
Đây là thuyết được số đông học giả Trung Quốc tán đồng. (Thuyết U.4)
 |
| Bản đồ “Nam Hải chư đảo vị trí đồ” do Sở Phương vực (Trung Hoa Dân Quốc)
biên soạn năm 1947 sau chuyến đi của Lâm Tuân. Bản đồ được vẽ và viết
bằng tay. Đây là tiền thân của cái gọi là “đường chữ U” hiện nay - Ảnh:
hudong.com |
Lựa chọn làm sao?
Ứng
với bốn thuyết/khái niệm nêu trên là bốn phương án giải thích và Chính
phủ Trung Quốc phải chọn lựa một trong bốn phương án để kiện toàn hồ sơ
pháp lý trong trường hợp tòa quốc tế yêu cầu.
Trước
tình hình này, học giới Trung Quốc đã liên tục tìm kiếm, nghe ngóng các
phản biện từ bên ngoài để cập nhật đối phó, kể cả các bài phân tích của
vài tác giả Việt Nam như Nguyễn Hồng Thao, Trần Trường Thủy, Vũ Quang
Việt nhằm điều chỉnh hoặc loại trừ các yếu tố bất lợi trong lập luận của
họ.
Hiện
tại, theo phản ảnh của nhiều học giả như Trương Khiết, Quản Kiến Cường,
Lý Kim Minh... thì Chính phủ Trung Quốc vẫn đang lưỡng lự, trong khi
các học giả đều nôn nóng có một chủ trương rõ ràng, chọn hẳn một phương
án giải thích.
Ngoài
những phản bác rất sắc bén của học giới quốc tế, những phân tích từ bên
trong nội bộ học giới Trung Quốc cho thấy luận cứ của các thuyết U.1,
U.2 và U.3 đều không đứng vững. Đa số học giả ủng hộ thuyết U.4 cho thấy
họ có giải pháp tối ưu dành cho nó.
Tuy
nhiên, độ tin cậy quả quyết về thuyết U.4 cũng không mạnh. Có lẽ đây
cũng là nguyên nhân khiến Chính phủ Trung Quốc chủ trương tránh quốc tế
hóa vấn đề, lẩn tránh hoặc từ chối đưa vụ việc ra tòa quốc tế.
Tuy
là thuyết U.4 được nhiều học giả đề nghị, nhưng gần đây nhất, trong bài
viết của Trịnh Chí Hoa trên nhật báo Pháp Chế (ngày 10-6-2014) và của
Vương Quân Mẫn trên Thời Báo Học Tập (7-7-2014), lý lẽ của thuyết U.3
vẫn được vận dụng, và vấn đề tranh chấp bãi cạn Scarborough (Hoàng Nham)
với Philippines cũng được dẫn chứng phân tích.
Nhìn
chung, một mặt, học giới Trung Quốc đang nỗ lực “vận dụng trí tuệ” để
“đường chữ U” hợp thức, trong đó có biểu hiện mũi nhọn là xu hướng lập
một “ngoại lệ” cho “đường chữ U”, mặt khác, tinh thần của giới học thuật
nước này nhìn chung vẫn quyết tâm kiên trì bám víu “đường chữ U”, bất
kể trong tương lai nó có hợp thức hay không.
Trong
phần kết luận một bài viết phân tích lợi hại của các phương án lập
luận, giáo sư Lý Kim Minh, chuyên viên Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á
(ĐH Hạ Môn), viết: “Bất kể luận điểm pháp lý sau cùng nhận định về đường
chữ U ra sao, trên bản đồ nó vẫn phải tồn tại không thể nào loại bỏ, mà
phải bảo vệ bồi đắp hơn nữa”.
Ẩn
trong một nghiên cứu công phu về chiến lược pháp lý, Trương Khiết cũng
gợi ý rằng Chính phủ Trung Quốc nên kiên trì đường lối ngoại giao chính
trị với Việt Nam để giải quyết riêng vấn đề Nam Hải.
Về
phía Việt Nam, có lẽ các chuyên gia luật biển, luật quốc tế cần phải
nghiên cứu nhiều hơn những tình tiết trong lập luận của bốn thuyết, và
cả các biến thể từ U.2+U.3 hoặc U.3+U.4.
Một
tình huống giả định là nếu như thuyết U.4 được chọn, tức là Trung Quốc
hoàn toàn không cần thiết vận dụng tư liệu sử cổ đại (từ năm 1840 trở về
trước) và trong các loại tư liệu sử cận đại lại chỉ đặt trọng tâm vấn
đề vào các tư liệu thời Dân Quốc chẳng hạn, trong khi các loại tư liệu
này đại đa số là loại hồ sơ lưu trữ không dễ tiếp cận toàn diện.
Đây cũng là một trong những vấn đề học thuật cần phải tính đến.
PHẠM HOÀNG QUÂN (TTCT)